IAC Hà Nội xin chia sẻ những quy định nhằm xác định quy mô tính trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính:
Mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính là để kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận xem báo cáo tài chính có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, có tuân thủ pháp luật, có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không.
Do đó, việc xác định mức trọng yếu của thông tin là khâu quan trọng, bởi nó sẽ ảnh hưởng đến những quyết định kinh tế của các bên sử dụng. Bài viết phân tích về tính trọng yếu trên cơ sở xem xét trên cả mặt định tính và định lượng, từ đó xác định quy mô tính trọng yếu tương ứng với một số phương pháp xác định cụ thể.
Tổng quan về tính trọng yếu trong kiểm toán
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 200 – Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC) và Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 320 – Tính trọng yếu trong kiểm toán, trọng yếu được hiểu là thuật ngữ chỉ tầm quan trọng của một thông tin (số liệu kế toán) trên BCTC.
Thông tin được coi là trọng yếu nếu, thiếu thông tin sẽ ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế của những người sử dụng BCTC. Mức trọng yếu được xác định tùy theo từng điều kiện cụ thể và được xem xét căn cứ theo phương pháp định tính và định lượng.
Về mặt định tính: Khái niệm trọng yếu gắn với tính hệ trọng của các nghiệp vụ, khoản mục. Thông thường các khoản mục, nghiệp vụ có gian lận hoặc chứa đựng khả năng gian lận thường được coi là trọng yếu.
Bên cạnh những sai sót hệ trọng cũng được xem là trọng yếu dù quy mô nhỏ. Đây là việc xem xét bản chất của vấn đề có những trường hợp, tuy giá trị thấp do bản chất của sai phạm vẫn có thể xem là trọng yếu.
Về định lượng: Được xem là trọng yếu khi vượt giới hạn cho phép, hay sai sót có thể chấp nhận được. Nếu một nghiệp vụ, một khoản mục bị sai phạm có quy mô lớn đến mức quyết định bản chất đối tượng kiểm toán thì nghiệp vụ, khoản mục đó được coi là trọng yếu.
Ngược lại, quy mô sai phạm chưa đủ lớn để làm thay đổi nhận thức về đối tượng kiểm toán thì khoản mục, nghiệp vụ không được coi là trọng yếu. Quy mô của trọng yếu không thể được coi là một số tuyệt đối, bởi vì một khoản mục, nghiệp vụ có quy mô nhất định, có thể là trọng yếu đối với công ty nhỏ nhưng lại không trọng yếu đối với công ty lớn.
Vì thế, tính trọng yếu xét về mặt quy mô cần được đặt trong mối tương quan với toàn bộ đối tượng kiểm toán. Nghĩa là, xem xét tỷ lệ của khoản mục nghiệp vụ so với một cơ sở tính toán tùy thuộc vào đặc trưng của từng khách hàng như: tổng tài sản, hay tổng vốn chủ sở hữu, tổng doanh thu hay lợi nhuận trước thuế.
Cơ sở xác lập mức trọng yếu
Trong bước lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên (KTV) cần xác lập mức trọng yếu cho tổng thể BCTC và mức trọng yếu cho từng khoản mục để ước tính sai lệch có thể chấp nhận được của BCTC cũng như từng khoản mục phục vụ cho việc kiểm tra chi tiết.
Mức trọng yếu cho tổng thể BCTC được xác định tùy thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp (DN), thực trạng hoạt động tài chính, mục đích của người sử dụng thông tin. KTV thường căn cứ vào các chỉ tiêu tài chính sau để xác định:
- Doanh thu được áp dụng khi đơn vị chưa có lãi ổn định nhưng đã có doanh thu ổn định và doanh thu là một trong những nhân tố quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động. Tỷ lệ được các công ty kiểm toán lựa chọn thường từ 0,5% - 3% doanh thu - Lợi nhuận trước thuế được áp dụng khi đơn vị có lãi ổn định.
Lợi nhuận là chỉ tiêu được nhiều KTV lựa chọn, vì đó là chỉ tiêu được đông đảo người sử dụng BCTC quan tâm, nhất là cổ đông của các công ty. Tỷ lệ được lựa chọn thường từ 5% - 10% lợi nhuận trước thuế.
- Tổng tài sản được áp dụng đối với các công ty có khả năng bị phá sản, có lỗ lũy kế lớn so với vốn góp. Người sử dụng có thể quan tâm nhiều hơn về khả năng thanh toán thì việc sử dụng chỉ tiêu tổng tài sản là hợp lý. Tỷ lệ được lựa chọn thường nằm trong khoảng từ 0,5% - 1% tổng tài sản.
- Vốn chủ sở hữu được áp dụng khi đơn vị mới thành lập; doanh thu, lợi nhuận chưa có hoặc có nhưng chưa ổn định. Tỷ lệ được lựa chọn từ 1% -2% vốn chủ sở hữu. Mức trọng yếu phân bổ cho từng khoản mục là mức sai lệch tối đa của khoản mục đó.
Khi phân bổ mức trọng yếu cho từng khoản mục KTV căn cứ vào phương pháp phân bổ của công ty, kinh nghiệm của KTV về khoản mục, bản chất của khoản mục, các đánh giá về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát cũng như thời gian và chi phí kiểm tra khoản mục đó để phân bổ cho hợp lý.
Phương pháp xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTC: Mức trọng yếu = Tiêu chí (Benchmark) x Tỷ lệ %
Xác định tiêu chí lựa chọn là điểm khởi đầu trong việc xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTC: Các tiêu chí phù hợp thông thường được lựa chọn có thể là: Lợi nhuận trước thuế, tổng doanh thu, lợi nhuận gộp, tổng chi phí. Xác định tiêu chí còn ảnh hưởng bởi một số yếu tố sau:
- Các yếu tố của BCTC, ví dụ như: tài sản, các khoản nợ, nguồn vốn, doanh thu, chi phí;
- Các thước đo hoạt động theo các quy định chung về lập và trình bày BCTC, ví dụ như: tình hình tài chính, kết quả hoạt động, dòng tiền.
- Các khoản mục trên BCTC mà người sử dụng có xu hướng quan tâm, ví dụ như: để đánh giá kết quả tài chính, người sử dụng có xu hướng tập trung vào lợi nhuận, doanh thu hoặc tài sản thuần...
Xác định tỷ lệ % cho tiêu chí lựa chọn KTV phải sử dụng xét đoán chuyên môn khi xác định tỷ lệ % áp dụng cho tiêu chí đã lựa chọn. Tỷ lệ % và tiêu chí được lựa chọn thường có mối liên hệ với nhau như tỷ lệ % áp dụng cho mức lợi nhuận trước thuế từ hoạt động kinh doanh liên tục thường cao hơn tỷ lệ % áp dụng cho doanh thu, do số tuyệt đối của doanh thu là lợi nhuận trước thuế thường chênh lệch nhau đáng kể và KTV có xu hướng cân bằng mức trọng yếu cho từng bộ phận trên BCTC, cho dù áp dụng bất kỳ tiêu chí nào.
Xác định tỷ lệ % cao hay thấp sẽ ảnh hưởng đến khối lượng công việc kiểm toán được thực hiện mà cụ thể số mẫu cần phải kiểm tra, phụ thuộc vào đánh giá về rủi ro có sai sót trọng yếu của KTV.
Ví dụ như: Khi KTV lựa chọn tỷ lệ 5% lợi nhuận trước thuế, tức là KTV mong muốn phát hiện nhiều sai sót có thể ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC hơn so với việc lựa chọn tỷ lệ 10%. Thông thường trong thực tế kiểm toán, có 4 cách thức áp dụng tỷ lệ % để tính toán mức trọng yếu, gồm:
- Áp dụng một tỷ lệ đơn nhất, KTV sử dụng một tỷ lệ đơn nhất để tính mức trọng yếu. Một công ty kiểm toán có thể quy định 3 hoặc 4 quy tắc và cho phép KTV trong mỗi cuộc kiểm toán có quyền lựa chọn quy tắc phù hợp. Ví dụ: - 5% đến 10% lợi nhuận trước thuế; - 1% đến 2% tổng tài sản; - 1% đến 5% vốn chủ sở hữu; - 0.5% đến 1% tổng doanh thu.
- Áp dụng tỷ lệ tùy theo quy mô của đơn vị được kiểm toán: Cách làm này tương tự như áp dụng một tỷ lệ đơn nhất, chỉ khác là cho phép KTV áp dụng các mức trọng yếu khác nhau tùy theo quy mô của từng đơn vị được kiểm toán trên cơ sở quy mô tiêu chí lựa chọn càng lớn thì tỷ lệ % lựa chọn càng nhỏ.
KTV phải cân nhắc các yếu tố định tính để xác định mức trọng yếu nào là tương ứng với quy mô phù hợp. Ví dụ: 2% đến 5% lợi nhuận gộp, nếu lợi nhuận gộp nhỏ hơn 20.000 USD; 1% đến 2% lợi nhuận gộp, nếu lợi nhuận gộp đạt từ 20.000 USD – 1.000.000 USD; 0,5% đến 1% lợi nhuận gộp, nếu lợi nhuận gộp đạt từ 1.000.000 – 100.000.000 USD; 0,5% nếu lợi nhuận gộp vượt trên 100.000.000 USD.
- Áp dụng phương pháp bình quân: Theo phương pháp này, KTV xác định mức trọng yếu theo 3-4 quy tắc áp dụng tỷ lệ đơn nhất và tính mức trọng yếu bình quân giữa các quy tắc này. Có thể hiểu, đây là cách gián tiếp để xem xét các yếu tố định tính khi mức trọng yếu được coi là giữ vị trí quan trọng 25% trong mức trọng yếu tổng thể đối với BCTC.
- Áp dụng công thức có sẵn: Công thức tính mức trọng yếu được xác định thông qua phân tích thống kê về các mức trọng yếu từ một số lượng lớn các đơn vị được kiểm toán. Thực chất, đây là cách tính bình quân như trên nhưng có hệ số cố định. Ví dụ: Mức trọng yếu = 1,84 (Chỉ tiêu lớn hơn giữa tổng tài sản hoặc tổng doanh thu).



Ý kiến bạn đọc [ 0 ]
Ý kiến của bạn